5 DÂN TỘC ÍT NGƯỜI NHẤT VIỆT NAM

5 dân tộc ít người nhất Việt Nam là một chủ đề không chỉ thể hiện sự đa dạng văn hóa mà còn phản ánh những giá trị sống, phong tục tập quán độc đáo của các cộng đồng này. Trong bức tranh tổng thể về các dân tộc tại Việt Nam, có một số dân tộc với số lượng thành viên rất ít, dẫn đến việc họ thường bị lãng quên trong dòng chảy phát triển xã hội. Những dân tộc này không chỉ góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc mà còn chứa đựng nhiều câu chuyện lịch sử, truyền thuyết và di sản quý báu. Hãy cùng khám phá những dân tộc ít người nhất Việt Nam qua bài viết dưới đây.



1/ Dân tộc Ơ Đu ( Tây Hạt )

Dân số: 376 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)


Địa điểm sinh sống
Dân tộc Ơ Đu là một trong những dân tộc ít người nhất tại Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Nghệ An. Số lượng người Ơ Đu chỉ khoảng vài trăm, và họ có một nền văn hóa độc đáo cần được gìn giữ.

Trang phục
Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

Ngôn ngữ
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày. Về giáo dục,ngay tại nơi tái định cư, học sinh khối mầm non và tiểu học được học tại điểm trường khang trang ngay trung tâm bản. Nhiều lớp học tiếng Ơ Đu được mở do các bậc cao niên truyền dạy, thu hút đông đảo thanh thiếu niên tham gia.

Đặc điểm kinh tế
Cuộc sống của người Ơ Đu chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chăn nuôi và một số nghề thủ công truyền thống. Họ trồng lúa và các loại cây ăn quả, nhưng do điều kiện sống khó khăn nên cuộc sống thường xuyên thiếu thốn.
Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi.

Phong tục tập quán
Ăn: Người Ơ Ðu trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.
Nhà ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc), thường lợp gianh, vách ván hoặc vách nứa đan. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái. Phương tiện vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển phổ biến nhất.
Hôn nhân: Người Ơ Đu sống trong gia đình nhỏ, trong hôn nhân có tục ở rể. Lễ vật cưới hỏi phải có thịt chuột sấy khô, cá ướp muối. Sau một thời gian chàng rể mới đưa vợ, con về nhà mình. 


2/ Dân tộc Brâu

Số dân: hơn 500 người (Thống kê 2019)

 
Địa điểm sinh sống
Người Brâu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), cư trú chủ yếu tại làng Đắk Mế, xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Trang phục
Đồng bào Brâu không mấy cầu kỳ, đàn ông xưa đóng khố, đàn bà quấn váy tấm. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang. Nữ giới có tục căng tai để đeo những khoanh nứa vàng hoặc khuyên bằng ngà voi. Nữ trang có vòng cổ, vòng tay bằng đồng, bạc hay nhôm.

Ngôn ngữ
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Đặc điểm kinh tế
Trước đây sinh kế của đồng bào Brâu là làm rẫy, trồng lúa nếp, lúa tẻ, ngô, sắn. Trong làng người Brâu sinh sống có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Ðàn ông có khá nhiều người biết đan lát. Người Brâu thường đem lâm thổ sản đổi lấy váy áo hoặc vải của các dân tộc láng giềng.
Người Brâu trồng lúa, ngô, sắn trên rẫy là chủ yếu. Săn bắt, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống. Trong làng có lò rèn để tu sửa nông cụ.

Phong tục tập quán
Ăn: Người Brâu ăn cơm tẻ và cơm lam, thích uống rượu cần, hút thuốc lá sợi bằng tẩu.
Nhà ở: Người Brâu ở nhà sàn nhỏ. Các nhà xếp theo dáng hình tròn và hướng vào một nhà chung ở giữa. Nhà này là nơi sinh hoạt chung của bản.
Hôn nhân: Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, do nhà trai chi phí. Sau hôn nhân, tục ở rể kéo dài 4 - 5 năm, sau đó là thời gian luân cư của hai vợ chồng . Tang ma: Theo tập quán thổ táng, quan tài chôn nửa chìm, nửa nổi rồi dựng nhà mồ để tùy táng. Xung quanh nhà mồ được trang trí những mặt nạ bằng gỗ.
Lễ hội: Lễ ăn mừng cơm mới là lễ hội lớn nhất. Ngoài ra còn có lễ hội mừng nhà Rông mới.


3/ Dân tộc Rơ Măm (Rơ-măm Ale)

Dân số: hơn 600 người (số liệu thống kê năm 2019)


Địa điểm sinh sống
Trong lịch sử, những năm đầu thế kỷ XX, dân số Rơ Măm còn tương đối đông, phân bố rải rác trong 12 làng xen lẫn với người Gia-rai ở tỉnh Kon Tum. Trải qua nhiều biến cố, nay chỉ còn một làng với dân số ít ỏi ở nơi tiếp giáp Việt Nam - Campuchia, thuộc huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Trang phục
Đàn ông đóng khố dài, vạt trước buông tới đầu gối, vạt sau dài tới ống chân. Đàn bà quấn váy. Mọi người thường ở trần, đôi khi nữ mặc áo cộc tay, khố và váy là tấm vải mộc.

Ngôn ngữ

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Rơ Măm hiện sử dụng thành thạo tiếng nói của nhiều dân tộc, trong đó có tiếng phổ thông.

Đặc điểm kinh tế
Người Rơ-măm sống dựa vào làm rẫy, trồng lúa nếp là chính bằng cách phát, đốt rừng, chọc lỗ, trỉa hạt. Săn bắn và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng. Đồng bào chăn nuôi gia súc, đan lát và dệt vải.

Phong tục tập quán
Ăn:
Tập quán ăn bốc còn tồn tại khá phổ biến vào thời điểm hiện nay. Những ngày lễ tết, hội hè cư dân uống rượu cần chế từ các loại gạo, sắn, bắp...
Nhà ở: Nhà ở là loại nhà sàn dài, cất kế tiếp, xung quanh ngôi nhà chung. Cửa chính của mọi ngôi nhà đều quay nhìn vào nhà rông và nhà ở của các gia đình là khu sân chơi. Quanh làng có hàng rào bảo vệ. Mỗi nóc nhà thường có nhiều bếp. Mỗi cặp vợ chồng ở trong một buồng có vách ngăn, với một bếp riêng. Gian chính giữa nhà là nơi tiếp khách...
Quan hệ xã hội: Ðứng đầu làng là một già làng, người cao tuổi nhất trong làng, do dân tín nhiệm bầu ra. Làng truyền thống là một công xã láng giềng. Mọi thành viên quan hệ với nhau dựa trên cơ sở bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Quan hệ xã hội ở đây còn lưu giữ khá đậm các tàn dư của thời kỳ mẫu hệ vào giai đoạn đang chuyển nhanh sang chế độ phụ quyền.


4/ Dân tộc Pu Péo

Dân số: 903 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).



Địa bàn cư trú
Người Pu Péo sống rải rác ở các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang. Nguồn gốc lịch sử: Người Pu Péo sống lâu đối ở vùng cực bắc lãnh thổ Việt Nam.

Trang phục
Nữ giới mặc váy dài, áo ngắn, cài khuy bên nách phải, đôi khi phủ khăn vuông trên đầu. Mép tay áo mép váy được ghép, viền vải màu tạo hoa văn sặc sỡ. Nam giới mặc quần, áo ngắn.

Ngôn ngữ
Tiếng Pu Péo thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai. Người Pu Péo nói giỏi tiếng Hmông.

Đặc điểm kinh tế
Người Pu Péo chuyên trồng ngô, đậu trên nương với kỹ thuật cao, như cày nương, bón phân và trồng xen canh gối vụ. Một số trồng lúa trên ruộng bậc thang. Họ sử dụng trâu bò làm sức kéo. Có người làm nghề ngói máng, mộc.

Phong tục tập quán    
Ăn: Bột ngô đồ, canh là 2 món ăn chính của người Pu Péo. Họ dùng thìa để húp canh.
Nhà ở: Người Pu Péo định cư ở huyện Ðồng Văn, tỉnh Hà Giang. Xưa kia họ ở nhà sàn, nay ở nhà trệt. Nhà trình tường hay chỉ là ván bưng, lợp ngói máng hoặc cỏ gianh.
Quan hệ xã hội: Người Pu Péo tồn tại song song hai loại dòng họ. Một loại gọi theo tên bằng chữ Hán, đọc theo cách phiên âm của địa phương như Củng, Tráng, Phù... được sử dụng chính thức trong các giấy tờ. Một loại họ khác cổ hơn, thể hiện mối dây liên lạc máu mủ giữa các thành viên của dòng họ, mỗi dòng họ như thế thường gồm một cặp như Kacung - Kacăm, Karảm - Kachâm, Karu - Karựa, Ka bu - Ka bởng.
Cưới xin: Cưới xin có nhiều bước. Hôm đón dâu, phù dâu phải cõng cô dâu ra khỏi cổng để theo đoàn nhà trai về. Trong bữa cơm cúng tổ tiên, thức ăn để trên nong, cả nhà cùng dâu rể phải ăn bốc. Lễ lại mặt tiến hành nhiều lần, sau ngày cưới 3,7, 13, 30 ngày.


5/ Dân tộc Si La
Dân số: hơn 900 người ( số liệu thống kê năm 2019 )


Địa điểm sinh sống
Người Si La sinh sống chủ yếu ở Lai Châu và Điện Biên.

Trang phục

Phụ nữ mặc váy chàm, áo ngắn cài cúc bên nách phải, trên áo phía trước được thêu đính nhiều xu bạc, vấn khăn có tết sợi chỉ màu sắc. Cách vấn khăn thường biểu thị tình trạng hôn nhân. Nam giới mặc quần chân què lá tọa và áo khuy vải có hai túi lớn ở hai vạt trước và cũng quấn khăn trên đầu.

Ngôn ngữ
Tiếng nói của người Si La thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng. Người Si La chưa có chữ viết riêng.

Đặc điểm kinh tế
Trước kia người Si La quen du cư, du canh, gần đây đã biết kết hợp vừa làm nương, vừa làm ruộng nước. Đồng bào trồng lúa, ngô, săn bắt, hái lượm và chăn nuôi.

Phong tục tập quán
Ăn: Xưa kia người Si La quen dùng cơm nếp, gần đây ăn cơm tẻ nhiều hơn. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, hái lượm.
Nhà ở: Người Si La sống quây quần thành bản nhỏ, kín đáo, ở nhà đất hay nhà vách nứa, thường không có vườn. Bếp đặt ở giữa nhà. 
Hôn nhân: Trai gái yêu nhau được quan hệ với nhau, người con trai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình và phong tục cưới hỏi của người Si La cũng rất đặc sắc họ làm lễ cưới hai lần. Lần đầu đón cô dâu về nhà chồng, lần thứ hai sau một năm. Nhà trai phải có khoản tiền cưới trao cho nhà gái mới được đón dâu về nhà mình.


Kết luận
Việc tìm hiểu và gìn giữ văn hóa của 5 dân tộc ít người nhất Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ của một vài cá nhân hay tổ chức mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Nền văn hóa đa dạng của các dân tộc này là biểu tượng cho sự phong phú và độc đáo của đất nước, cũng như là một phần không thể thiếu trong bức tranh văn hóa của Việt Nam. Chúng ta cần hành động ngay hôm nay để bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa quý báu này cho các thế hệ tương lai.